Trang chủ     Giới thiệu     Liên lạc     Đặt làm trang chủ         
TIN PHƯỚC HẬU     TIN PHẬT GIÁO     PHẬT HỌC & TRIẾT HỌC     LỊCH SỬ & VĂN HÓA     NGHI LỄ     TỦ SÁCH     Y HỌC     ÂM NHẠC     TUỔI TRẺ     HỎI ĐÁP
   NGHI LỄ PHẬT GIÁO - Nghi thức chẩn tế

Chẩn Tế và Bạt Ðộ Thiết Nghi
  
Ý nghiã của việc cúng thí thực cô hồn: Nghĩa của hai chữ thí thực là bố thí thức ăn, về quan niệm ăn của Phật Giáo như sau:

 a. Ðoạn thực: thức ăn cứng, có thể chia thành phần như cơm, cháo, rau, canh, thịt, cá v.v. & các thức vật có hương vị làm xúc cảm tâm thức. Tóm lại là những thức ăn thông thường mà các chúng sanh trong cỏi Trời, Người và súc vật thường ăn, ăn bằng miệng và tiêu hóa được. b. Xúc thực: Ăn với thức quan hay biết mùi vị, tức là cách ăn của Quỷ, Thần thọ hưỡng hương vị mà thôi. c. Tư thực: ăn với sự kiện thần giao tư tưởng, là phép ăn của bậc Thiên trên cỏi sắc giới, ăn với phương thức thuyền duyệt tức là không chủ về vật phẩm ăn mà chỉ thọ hưỡng hơi hương, luôn luôn xem việc ăn là đạo vị, thanh tịnh. d. Thức thực: ăn qua sự giao cảm của thức thứ 8, phép ăn nầy bậc Thánh, Phàm có khác nhau, bậc Thánh hưỡng thụ một cách hồn nhiên không phân biệt, còn bậc phàm phân biệt là ngon, dở; do chỗ phân biệt mà có tham muốn rồi khởi lên tư tưởng tham ăn đến bị vào vòng sinh tử, luân hồi. Vì vậy mà khi mình ăn thì bậc Thánh cũng thọ hưỡng cho đến các loài ngạ quỷ, súc sanh đều thọ dụng. Do đó mà các bậc tu hành, khi ăn trước hết phải cúng dường lên Phật, lên Tổ rồi làm phép Thí thực cho khắp thập loại chúng sanh, cô hồn, hai chữ cô hồn là nói chung tất cả những hương hồn bơ vơ, cô độc, không nơi nương tựa, không nơi thờ cúng, không ai ghi nhớ. . . Nhưng theo kinh sách thì gọi là Thí Thực Ngạ quỷ tức là ban phát thức ăn cho các loài quỷ đói, do đó những hương hồn bơ vơ, không nơi nương tựa cũng trở thành ngạ quỷ. Vậy thí thực cô hồn cũng là Thí thực Ngạ quỷ. Cúng thí thực cô hồn là một khoa nghi cứu độ cho các oan hồn uổng tử, không nơi nương tựa đã có tự ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế. Trong kinh Phật thuyết Diệm Khẩu Ngạ quỷ Ðà la ni có ghi lại: Một hôm ngài A Nan đang tịnh tu, có một con quỷ mặt mày quái dị đến nói với ngài trong ba ngày nữa ngài sẽ chết. Ngài đem chuyện ấy bạch lại với đức Phật. Phật dạy khắp trong ba cõi đều có các loài ngạ quỷ cần cứu độ. Phật còn dạy cho ngài A Nan những chú nguyện cần thiết và bảo lấy gạo nấu cơm cháo để cúng thí. Từ đó về sau mỗi lần thọ trai, các đệ tử của Phật thường sớt lại phần ăn để bố thí chúng sanh và ngạ quỷ. Mãi về sau, việc cúng thí được chư Tổ sắp xếp theo thứ lớp: Cúng Phật, Cúng Tổ, thí thực ngạ quỷ cô hồn trước khi chư Tăng thọ trai. Tại chùa, cúng thí thực như là một phần hành trì thiết yếu hằng ngày sau công phu chiều. Ở Việt nam, ngày trước cứ mỗi lần trong nhà có lễ: quan, hôn, tang , tế đều có cúng thí thực. Ðơn giản một mâm lễ nhỏ, một nồi cháo trắng gọi là cúng cháo, hay thông thường gọi là cúng Mông sơn thí thực. Nguyện nhân đời nhà Tống, Cam lồ Pháp sư lập một trai đàn cúng thí thực trên đỉnh Mông sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, phần khoa nghi dựa theo kinh chú Phật thuyết và lời cầu nguyện tóm tắc như sau:

1/ Trình bày tất cả do tâm tạo, qua kệ Hoa Nghiêm: Nhược nhơn dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ứng quán pháp giới tánh, Nhất thiết do tâm tạo.

2/ Nguyện xa lìa cảnh ác thú bằng cách tập trung tư tưởng phá tan mọi phiền não, sám hối tội lỗi, giải sạch oan khiên qua chú: Phá địa ngục chơn ngôn, Phổ triệu thỉnh chơn ngôn, Giải oan kết chơn ngôn.

3/ Cung thỉnh : Mười phương Tam bảo, Thích Ca, Quán Âm, Ðịa Tạng, và A Nan Ðà giáng lâm tác chứng.

4/ Hướng dẫn chúng san h quy y Tam bảo: Quy y Phật lưỡng túc tôn, Quy y Pháp ly dục tôn, Quy y Tăng chúng trung tôn.

5/ Sám hối: Nhất thiết Phật tử, Hữu tình, Cô hồn giai sám hối. Nói chung cả người cúng lẫn kẻ thọ (cô hồn) phải thành tâm sám hối mới có lợi lạc. Kẻ cúng không bị đọa lạc, người hưởng (cô hồn) mới thọ dụng được pháp vị.

6/ Phát đại nguyện: Chúng sanh thệ nguyện độ, Phiền não thệ nguyện đoạn, Pháp môn thệ nguyện học, Phật đạo thệ nguyện thành. Chính người có phát tâm mới có giao cảm giữa người cứu độ và người cầu độ, mới gặt hái được kết quả lợi lạc.

7/ Diệt tội:Thành tâm sám hối, phát đại nguyện, hành giả tụng các thần chú diệt tội mới có linh cảm: Diệt định nghiệp chơn ngôn của ngài Ðịa Tạng . Diệt bất định nghiệp chơn ngôn của ngài Quán Âm.

8/ Tuyên thuyết định giới: thần chú khai yết hầu chơn ngôn và tam muội da giới chơn ngôn. Ðể cho chúng sanh diệt trừ chướng ngại, mở rộng yết hầu, thọ hưởng pháp thực; thọ xong , giữ giới để thoát khỏi phiền não.

9/ Biến thức ăn thành pháp vị: Biến thực chơn ngôn, Cam lồ thủy chơn ngôn, Nhất tự thủy chơn ngôn, Nhủ hải chơn ngôn; khiến cho chúng sanh thọ hưởng được sung mãn.

10/ Niệm Phật: Ðể cho hành giả và chúng sanh tạo duyên lành gây chủng tử Phật.

11/ Kết nguyện: Thần chú gia trì tịnh pháp thực, tất cả Phật tử, hữu tình, cô hồn đã no đủ, xã hết tham dục mau thoát cảnh u đồ vào tịnh độ. Trì chú:”vô giá thực chơn ngôn” phá tang sự ngăn ngại thánh phàm, tăng tục, bình đẳng thọ hưởng cam lồ vị.

12/ Hồi hướng: Cầu cho tất cả chúng sanh an lành vãng sanh cực lạc. Khoa này có ba điểm cốt lõi: Tâm thành, kinh chú, thân khẩu y thanh tịnh.

Cách lập bàn cúng Thí thực:

 

Thông thường là phải có 2 (hai) bàn: một bàn cao và một thấp hơn (gọi là bàn thượng và bàn hạ) : _ Bàn thượng: Tôn trí tượng Phật, hay tượng Bồ Tát, nhưng thông thường là tượng ngài Tiêu Diện Ðại Sĩ ( hóa thân của ngài Quán Thế Âm), lư hương, đèn, hoa, quả, ly nước trong. _ Bàn hạ (bàn đồ ăn) cũng trang trí: lư hương, đèn, bông, trái, ly nước trong, ly đề pha nước trà, một bình trà cúng. Phía sau dãy đồ thờ là một mâm cơm cúng gồm đủ đồ ăn như cúng linh,

ngoài ra còn có một nồi cháo thật lõng ( cháo thánh), một dĩa lớn hoặc một khay gồm: muối hột, gạo, đường thẻ. . . đây là thành phần chính yếu, nếu có thêm các thứ khác như : bắp, khoai lang, củ mì, bánh tráng, trái cây v.v. . . càng nhiều càng tốt. *Nếu có điều kiện và khả năng thì lập thêm một bàn nữa phía trước bàn đồ ăn. Bàn nầy cao hơn bàn đồ ăn, nhưng thấp hơn bàn Tiêu Diện một chút. Trên bàn nầy tôn trí tượng ngài Ðịa Tạng, lư hương, đèn, bông, trái như các bàn khác. Tóm lại, hai bàn thượng là bàn Phật, Bồ Tát nên trang trí đơn giản, trang nghiêm và không để đồ ăn. Lưu ý: a) Bàn thí thực luôn luôn lập ngoài nhà, trước cửa chính, nhìn vào bàn Phật trong nhà, tín chủ lạy hướng từ trong nhà lạy ra, cách thức lạy như lạy linh. Thí thực được cúng tại tư gia sau khi có lễ cầu an, cầu siêu hoàn mãn. b) Bàn thí thực Cô hồn không được lập gần cây thạch lựu, hoặc cây đào vì Quỷ sợ loại cây nầy. c) Trước bàn thí thực phải dành một khoảng trống; ít nhất là bằng một chiếc chiếu để quí vị Quỷ Thần, Cô hồn có chỗ lễ bái chư Phật và thọ thực không bị chướng ngại. Khi hương đã thắp lên rồi thì không nên đi qua, lại trong vùng nầy, mà chỉ nên đi hai bên. Chủ lễ Cư sĩ nên đứng sau chiếu dành cho các vị Quỷ Thần và Cô hồn. Nếu trai đàn chẫn tế, lược khoa thì khoảng trống nầy ở trước bàn Giác Hoa, và nên dùng loại dải vải vàng để làm ranh giới khu vực nầy. 2- Thực phẩm cúng: Nếu có cúng rau; nên cúng rau chín như rau luộc hoặc nấu canh, không được cúng rau sống. Cháo thánh phải nấu thật lỏng (nhiều nước, nhưng ít gạo). Không nên lấy cơm rồi cho nước vào để làm cháo. 3- Ban Nghi lễ và người tham dự: a) Trong suốt thời gian cung hành nghi lễ, tất cả mọi người không được ăn hay uống bất cứ món gì. Ngoại trừ thời gian nghỉ ngơi đã được qui định trong nghi thức. b) Phải hành lễ theo đúng thứ tự mà nghi thức đã qui định, không được đảo lộn như : thỉnh Cô hồn trước rồi thỉnh chư Phật và Bồ Tát sau. Tuy nhiên được phép thay đổi các bài thỉnh, nhưng nội dung vẫn không khác. c) Vị phụ trách hương đăng phải cắm hương sau mỗi lần thỉnh vào đúng lư hương của chư Bồ Tát hay Cô hồn như lời cung thỉnh. d) Nếu có Ðiệp văn nên tuyên đọc sau diên trà thứ nhì. Trên đây là những điều rất căn bản, tầm thường. Nhưng chính vì sự tầm thường đó mà chúng ta hay phạm phải và xem nhẹ; trong khi chính mình đang làm công việc đó và là người chịu hoàn toàn trách nhiệm về mọi hậu quả. Do đó chúng tôi viết lên những dòng chữ nầy với một ước nguyện duy nhất là: mong quí vị Cư sĩ đang có trách nhiệm nghi lễ để duy trì mạch đạo và bảo tồn một phần truyền thống văn hóa của dân tộc hãy lưu tâm, hầu ứng phú hửu hiệu trong mọi hoàn cảnh. Cao hơn cả là chẩn tế cô hồn, chú trọng đến siêu độ cho các âm linh oan hồn uổng tử, bất đắc kỳ tử, bất định nghiệp, chiến sĩ trận vong không nơi nương tựa. Không những thí thực mà còn một lòng mong cứu độ cho chư vị thoát khỏi cảnh khổ nghiệp ác của cõi ngạ quỷ cô hồn.

Một khoa nghi nhiều lợi lạc nhất nhưng rất khó thực hiện, vì phải đòi hỏi tinh thông cả hai mặt, kinh điển và mật điển. Mật điển của khoa Du Già là Tam Mật đồng tu: Thân kiết ấn, Khẩu trì chú, Ý quán tưởng. Ấn là Pháp thân, Chú là Báo thân, Kinh văn là Hóa thân. Thành tâm cầu nguyện thập phương Tam bảo gia hộ, tam nghiệp thanh tịnh, phát khởi tam tâm: từ bi, hỷ xã, bình đẳng độ thoát địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh tam đồ khổ não, chúng sanh đồng sanh an dưỡng. Có thể nói đây là một pháp hành trì mà âm cảnh và dương gian đồng lợi lạc. Phần nghi lễ thường do một số thầy thuần thục khoa nghi Du già ngồi đàn.

 

Cung trần pháp đàn chẩn tế :

 Ðàn tràng tiếng Phạn là Mạn đà la, có nghĩa là một chỗ ngồi, một cuộc đất, lại còn có nghĩa là Luân viên cụ túc. Tức là lập một cái đàn bằng đất cao, vuông hoặc tròn đặt chư tôn lên đó mà cúng tế. Trên đàn tập trung đầy đủ chư tôn, chư đức, tạo thành một đại Pháp môn, một bánh xe tròn trặn, lại còn có nghĩa nơi tụ hội của thánh hiền, muôn đức đều quay về. Vậy cung trần pháp đàn chẩn tế là bày biện, sắp xếp vị trí hành lễ chẩn tế tròn đầy trang nghiêm theo khoa nghi. Thứ tự từ trong ra như sau: 1/ Bàn Phật: Cung thỉnh tượng Phật Thích Ca. 2/ Bàn kinh: Kinh sách, chuông mõ, pháp khí. 3/ Tham lễ Giác Hoàng: Chủ sám vào bạch Phật, đội nón Tỳ Lư Nón Tỳ Lư: tỳ Lư là tên gọi tắc của Tỳ Lư Giá Na tên chung của Pháp thân Phật tức là đức Ðại Nhật Như Lai của Mật giáo. Vị Tăng thủ tọa đội nón Tỳ Lư đứng làm đức Phật Tỳ Lư Giá Na (Ðại Nhật Như Lai) tụng kinh thí thực trong lễ Vu Lan. Do đó nón này các gia trì sư đội trong các lễ trai đàn chẩn tế, bạt độ và tang lễ của Phật giáo Việt nam 4/ Màn Sư tử toà: Sư tử tọa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải là Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ ở đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất... thì những chỗ đó đều gọi là sư tử tòa. Vậy bức màn sư tử tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị gia trì sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật. 5/ Bảo tọa: Chỗ ngồi của gia trì sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương chánh pháp. Theo khoa nghi trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất nghiêm trang. Sau khi cung thỉnh ngũ phương Phật xong, vị chủ sám đến trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng vào vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh sám chủ đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Vị chủ sám đáp lời và xin phép chư Phật cho đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống Bát Nhã để cung nghênh bằng động tác vổ thủ xích, chuông trống Bát Nhã cử hành, sám chủ quay về trái thượng bảo tọa. Kinh sư vào vị trí bàn kim đài. 6/ Màn song khai: Trước bảo tọa là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo quy định trong khoa nghi. 7/ Bàn kim đài: Kinh sư ngồi hai bên tả hữu, mỗi bên ba hay bốn người. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có đội nón Tỳ Lư hay không và xử dụng pháp khí (tan hay đẩu) tùy theo địa phương. 8/ Bàn giác hoa: Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời quá khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có mọt cô gái Bà la môn, nhân mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Ðịnh Tữ Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gaí ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng

Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh địa ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Ðịa Tạng Bồ Tát. Bên ngoài có các bàn ngũ phương: Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật tông; và là sự phối hợp giữa ngũ phương, ngũ trí, ngũ Phật, ngũ bộ và ngũ hành trong Thai tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Do đó đàn tràng ngũ phương cũng được lập hai cách khác nhau: a/ Lập theo trung khoa Du Già:

1/ Trung ương: Tỳ Lô Giá Na (Ðại Nhật Như Lai) Hiển thân sắc màu vàng, đối diện bàn Giác Hoa.

2/ Phương Ðông: A Súc Phật (Bất Ðộng Như Lai) Hiển sắc màu xanh, trở mặt vào bàn trung ương.

3/ Phương Tây: Phật A Di Ðà. Hiển sắc màu trắng, trở mặt vào bàn trung ương.

4/ Phươmg Nam: Bảo sanh Phật. Hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào bàn trung ương.

5/ Phương Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật. Hiển sắc màu đen, trở mặt vào bàn trung ương. b/ Lập theo Kim Cang Giới Mạn Ðà La: 1/ Trung ương:Tỳ Lô Giá Na Phật- Phật bộ. Pháp giới thể tánh trí, thân sắc màu trắng. 2/ Phương Ðông: A Súc Phật- Kim Cang bộ. Ðại viên cảnh trí, thân sắc màu xanh hoặc màu lam. 3/ Phương Tây: A Di Ðà Phật- Liên Hoa bộ. Diệu quan sát trí, thân sắc màu đỏ. 4/ Phương Nam: Bảo Sanh Phật- Bảo bộ. Bình đẳng tánh trí, thân sắc màu vàng. 5/ Phương Bắc: Bất Không Thành Tựu Phật- Yết Ma bộ.Thành sở tác trí, thân sắc màu lục Sở dĩ có sự khác biệt về thân sắc của ngũ phương Phật là do nhiều nguyên nhân như: Truyền bá đến các nước Phật giáo bằng nhiều đường khác nhau, ảnh hưởng truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia dân tộc, tiến trình kết cấu và phát triễn Mạn Ðà La.v.v...Ngoài ra ấn tướng của chư Phật trong ngũ phương cũng có khác nhau theo sự phát triễn không ngừng của triết học Mạn Ðà La. Nhưng đây chỉ là những dị biệt nhỏ về hình thức, còn nội dung và mục đích tu chứng hoàn toàn không có gì thay đổi Phía sau Ngũ phương Phật là:

 1/ Bàn Ðịa Tạng (đồng hướng và cao như bàn Trung ương)

2/ Bàn hộc thực (thấp hơn, để đồ cúng)

3/ Bàn Tiêu Diện (cao hơn bàn Ðịa Tạng) Ngũ phương, Ðịa Tạng và Tiêu Diện là bảy vị Phật độ cô hồn nhập đàn tràng thọ hưởng pháp lạc. Thường tại chùa hay tư gia có thờ Phật, chỉ lập đàn tràng từ màn Sư tử tòa đến bàn Tiêu Diện trên rạp tiền chế. Nếu không đủ sứ chẩn tế thì cúng lược khoa: phần kinh chú nhẹ hơn, phần đàn tràng khỏi lập ngũ phương.

 

 

BẠT ÐỘ Giải oan Bạt độ có nghĩa là cỡi bỏ oan khiên trói buộc, nhổ sạch phiền não đưa hương linh qua sông mê về bến giác.Lễ giải oan Bạt độ mang một tính cách vô cùng quan trọng là ta luôn nghĩ đến những oanhồn uổng tử, những bất đắc kỳ tử trong thân thuộc giòng họ đang chơi vơi nơi cảnh ngạ quỷ cô hồn chưa được siêu thoát mong được hoá giải cứu độ. Trong hành lễ, Sám chủ xử dụng ấn chú và cây Tích trượng trong hình thức giải oan:( Triệu thỉnh, Phá địa ngục, Giải tội khiên, Sám hối, Quy y ). Cây Tích trượng còn có tên là Thanh trượng, Minh trượng, Trí trượng hay Ðức trượng. Hiển giáo dùng làm gậy khi đi khất thực và đuổi trùng thú. Theo Tích trượng kinh: -Tích trượng của Phật Ca Diếp có hai gọng và 12 vòng tượng trưng cho hai đế (chơn đế và tục đế) và thập nhị nhân duyên. -Tích trượng của Phật Thích Ca có 4 gọng và 12 vòng tượng trưng cho tứ đế và thập nhị nhân duyên Mật giáo thì cho đó là cây Thập Pháp Giới do 5 đại tạo thành, là hình Tam Muội Da của đức Ðịa Tạng có 6 vòng tượng trưng lục độ, trên đầu gậy có 5 bánh xe tượng trưng Bảo tháp. Hình thức dẫn độ hương linh qua cầu từ bến mê về bờ giác, bẽ gảy chiếc cầu giữa đôi đường mê giác, ân cần nhắc nhở chư hương linh đoạn tuyệt với quá khứ xấu xa, chuyên tâm tu hành thánh đạo:” Ðoạn nhất thiết ác, tu nhất thiết thiện, độ nhất thiết chúng sanh”. Hơn nữa, trong kinh Pháp Cú, Phật cũng đã dạy:”Tâm dẫn đầu, tâm làm chủ các trạng thái tâm lý và hành vi”.Nếu con người hành động hay nói năng với một tâm ác xấu thì khổ não sẽ lê bước theo sau người ấy như bánh xe lần theo dấu chân của con bò kéo xe. Ngược lại nếu con người hành động bằng tâm thiện lành thì hạnh phúc sẽ đuổi theo người ấy như bóng không rời hình” Với tâm thiện lành từ đây chắc hẳn âm linh thoát khỏi cảnh khổ phiêu bồng, chúng ta cũng không còn dây dưa với nghiệp cảm ấy nữa. Ngoài ra chúng ta còn có những cách bạt độ khác thuần túy như: quy y linh, vớt vong, thuyết linh.v.v...

………………………………..

 

Sơ lược nội dung nghi thức Chẩn Tế

 

1. NỘI ĐÀN : Tham lễ Giác Hoàng: Tất cả quý vị Kinh Sư đến trước Bàn Phật đảnh lễ Tam Bảo. Vị Gia Trì Sư mật niệm chú và trải ngọa cụ, niêm hương bạch Phật, ấn chú vào ba cây hương khác và cắm vào thủ lư. Ấn chú vào thủ xích, chuyển giao thủ lư cho trai chủ; chân đi theo nét viết một chữ bí mật. Ấn chú vào mũ và đội mũ Tỳ Lư. [Mũ Tỳ lư: Tỳ Lư là tên gọi tắc của Tỳ Lư Giá Na tên chung của Pháp thân Phật tức là Đức Đại Nhật Như Lai của Mật giáo. Vị Tăng thủ toạ đội nón Tỳ Lư đứng làm Đức Phật Tỳ Lư Giá Na ( Đức Đại Nhật Như Lai) tụng kinh thí thực trong lễ Vu Lan. Do đó mũ này các vị Gia Trì Sư đội trong các lễ trai đàn chẩn tế.] Xong nội đàn, di chuyển ra ngoại đàn và bắt đầu nghi thức Chẩn tế hay còn gọi Vô Giá Cam Lồ Pháp Hội (tức là pháp hội bố thí tài, pháp và thực phẩm bình đẳng, không phân biệt, ngăn ngại một ai).

 

2. NGOẠI ĐÀN : Thỉnh Tiêu Diện Thỉnh Địa Tạng Thỉnh Ngũ Phương Phật Thỉnh Sư đăng đàn thuyết giới Chẩn tế cô hồn là một khoa nghi cứu độ cho các oan hồn uổng tử đã có từ ngàn xưa. Phát xuất từ hồi Phật còn tại thế. Trong kinh Phật thuyết Diệm Khẩu Ngạ qủy Đà la ni có ghi lại: một hôm ngài A Nan đang tịnh tu, có một con qủy mặt mày quái dị đến nói với ngài trong ba ngày nữa ngài sẽ chết. Ngài đem chuyện ấy bạch lại với Đức Phật, Phật dạy khắp trong ba cõi đều có các loài ngạ qủy cần cứu độ. Phật còn dạy cho ngài A Nan những chú nguyện cần thiết và bảo lấy gạo nấu cơm cháo để cúng thí. Từ đó sau mỗi lần thọ trai, các đệ tử của Phật thường sớt lại phần ăn để bố thí chúng sanh và ngạ qủy. Mãi về sau, việc cúng thí được chư Tổ sắp xếp theo thứ lớp: cúng Phật, cúng Tổ, thí thực ngạ qủy, cô hồn trước khi chư tăng thọ trai. Tại chùa, cúng thí thực được xem như là một phần hành trì thiết yếu hằng ngày sau công phu chiều. Ở Việt Nam, bất cứ thời gian không gian nào, cứ mỗi lần trong nhà có lễ như: hôn, tang, tế đều có cúng thí thực. Đơn giản một mâm lễ nhỏ, 1 nồi cháo trắng gọi là cúng cháo, hay thông thường gọi là cúng Mông sơn thí thực, cúng các Quan, cúng kẻ khuất mặt khuất mày. . . Đến đời nhà Tống, Cam lồ Pháp sư lập một trai đàn cúng thí thực trên đỉnh Mông Sơn thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc, phần khoa nghi dựa theo kinh chú Phật thuyết và lời cầu nguyện tóm lược như sau: 1. Trình bày tất cả do tâm tạo '71ua kệ Hoa Nghiêm: Nhược nhơn dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ứng quán pháp giới tánh, nhất thiết do tâm tạo. 2. Nguyện xa lìa cảnh ác thú bằng cách tập trung tư tưởng phá tan mọi phiền não, sám hối tội lỗi, giải sạch oan khiên qua chú: Phá địa ngục chơn ngôn, Phổ triệu thỉnh chơn ngôn, Giải oan kết chơn ngôn. 3. Cung thỉnh mười phương Tam Bảo, Thích Ca, Quán Âm, Địa Tạng, và A Nan Đà giáng lâm tác chứng. 4. Hướng dẫn chúng sanh quy y Tam bảo: Quy y Phật lưỡng túc tôn, quy y Pháp ly dục tôn, quy y Tăng chúng trung tôn. 5. Sám hối: Nhất thiết phật tử, hữu tình, cô hồn giai sám hối. Nói chung cả người cúng lẫn kẻ thọ (cô hồn) phải thành tâm sám hối mới có lợi lạc. Kẻ cúng không bị đọa lạc, người hưởng (cô hồn) mới thọ dụng được pháp vị. 6. Phát đại nguyện: Chúng sanh thệ nguyện độ, phiền não thệ nguyện đoạn, pháp môn thệ nguyện học, Phật đạo thệ nguyện thành. Chính người có phát tâm mới có giao cảm, mới gặt hái lợi lạc. 7. Diệt tội: Thành tâm sám hối, phát đại nguyện và hành giả tụng các thần chú mới có linh cảm như chú Diệt định nghiệp chơn ngôn của ngài Địa Tạng, Diệt bất định nghiệp chơn ngôn của ngài Quán Âm. 8. Tuyên thuyết định giới: Thần chú khai yết hầu chơn ngôn và tam muội da giới chơn ngôn. Để cho chúng sanh diệt trừ chướng ngại, mở rộng yết hầu, thọ hưởng pháp thực, thọ xong, giữ giới để thoát khỏi phiền não. 9. Biến thức ăn thành Pháp vị: Biến thực chơn ngôn, Cam lồ thủy chơn ngôn, Nhất tự thủy chơn ngôn, Nhủ hải chơn ngôn, khiến cho chúng sanh thọ hưởng được sung mãn. 10. Niệm Phật: Để cho hành giả và chúng sanh tạo duyên lành gây chủng tử Phật. 11. Kết nguyện: Thần chú gia trì tịnh pháp thực, tất cả phật tử, hữu tình, cô hồn đã no đủ, xã hết tham dục mau thoát cảnh u đồ vào tịnh độ. Trì chú: “vô giá thực chơn ngôn” phá tan sư ngăn ngại thánh phàm, tăng tục, bình đẳng thọ hưởng cam lồ vị. 12. Hồi hướng: Cầu cho tất cả chúng sanh an lành vãng sanh cực lạc. Đặc biệt theo truyền thống Chẩn tế tại Huế, trước khi hồi hướng, một vị Hữu Kim Đài rời vị trí đến bên phải Án Giác Hoa, trên tay nâng bình Cam lồ có nước uống được đã chú nguyện suốt thời kinh chẩn tế tại bàn Kim Đài, tay quyết ấn miệng niệm câu: “Tịnh thủy từ từ chú hạ.” và rưới nước cam lồ từ bình xuống. Phía dưới đất nhiều Phật tử, Đạo hữu đưa ly, chén lên hứng lấy những giọt nước ấy để uống, thoa …hầu chữa bệnh. Niềm tin vào những chén nước cúng Phật, Bồ Tát, hay đã có sự chú nguyện của chư Tăng thường có công hiệu chữa bệnh, tăng sức khỏe v.v…từ ngàn xưa đến nay mới được nhà nghiên cứu người Nhật, Ông Masaru Emoto khám phá và viết thành cuốn sách “The Message from Water” được Mỹ Thanh chuyển sang Việt ngữ những điểm chính yếu với sự đồng ý của nhà xuất bản như những năng lượng rung động tư tưởng, lời nói, ý kiến, âm nhạc của con người đều ảnh hưởng đến cấu trúc của nước. (Muốn rõ xin đọc tác phẩm nầy). Khoa này có ba điểm: (1) Tâm thành, (2) Kinh chú, (3) Thân khẩu ý thanh tịnh tức Tam mật tương ưng. Trong khoa nghi Chẩn tế cô hồn, chú trọng đến siêu độ cho các âm linh oan hồn uổng tử, bất đắc kỳ tử, bất định nghiệp, chiến sĩ trận vong không nơi nương tựa. Không những thí thực mà còn một lòng cầu mong cho chư vị thoát ra khỏi cảnh khổ, nghiệp ác của cõi ngạ qủy cô hồn. Một khoa nghi nhiều lợi lạc nhất nhưng rất khó thực hiện, vì phải đòi hỏi sự tinh thông cả hai mặt, kinh điển và mật điển. Mật điển của khoa Du Già là Tam Mật đồng tu: Thân kiết ấn, Khẩu trì chú, Ý quán tưởng. Ấn là Pháp thân - Chú là Báo thân- Kinh văn là Hóa thân. Thành tâm cầu nguyện thập phương Tam Bảo gia hộ, tam nghiệp thanh tịnh, phát khởi tam tâm: từ bi, hỷ xã, bình đẳng độ thoát địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh tam đồ khổ não, chúng sinh đồng sanh an dưỡng. Có thể nói đây là một pháp hành trì mà âm cảnh và dương gian đồng lợi lạc. Do đó vị Gia trì và quí vị Kinh sư phải là những vị hành trì và giới hạnh rất nghiêm mật, luôn thanh tịnh thân tâm để đủ sức thần giao cách cảm trong lời chú nguyện khiến thức ăn biến hóa đầy đủ để hết thảy các loài chúng sanh đều thọ dụng được và nhờ vào công đức lực của quí Ngài mà Cô hồn được siêu sanh. Du Già là một bí phạm có khả năng tế sanh độ tử, trừ chướng giải oan nên chúng tôi không dám lạm bàn. Chúng tôi kính xin quí vị lắng lòng thanh tịnh hướng về đàn tràng góp nguyện lực cùng quí Thầy một lòng mong cứu độ chư âm linh cô hồn ra khỏi cảnh khổ não, đồng thời ứng dụng từng câu kinh, tiếng kệ vào cuộc sống hằng ngày để thấu rõ được lòng từ bi, bác ái của đạo Phật đã nằm sâu trong tình dân tộc và hài hòa trong nhân gian. Nhưng cốt lõi vô cùng thực tiễn: Thượng cúng thập phương Phật, Trung phụng chư Hiền Thánh. Hạ cập Lục đạo phẩm, Đẳng thí vô sai biệt. Tùy nguyện giai baỏ mãn. . . Do duyên lành, sau mùa kiết hạ, là mùa báo hiếu Vu Lan. Hơn nữa quý Phật tử Chùa Phổ Quang nói riêng và Đồng hương Phật tử nói chung đã thao thức từ lâu mong tìm cách cứu độ âm linh, nên Chùa Phổ Quang đã cung thỉnh chư Tăng đầy đủ pháp lực, thuần thục khoa nghi từ nhiều nơi vân tập về đây để đăng đàn bạt độ, chẩn tế cho những kẻ khuất mặt không nơi nương tựa, những oan hồn uổng tử, bất đắc kỳ tử, tuẩn tiết vong thân, chiến sĩ trận vong, nhất là những nạn nhân chiến tranh, những biến cố lịch sử cận đại của Việt Nam và Hoa Kỳ như: Ất Dậu (Ất Dậu 1885 = Kinh thành Huế thất thủ, Ất Dậu sau 60 năm 1945 = Nhật đảo chánh), Mậu Thân (1968), Ất Mão (1975), vụ 9 – 11.v.v… Đại lễ sẽ tổ chức vào đầu hạ tuần tháng 7, nhưng bây giờ trong lòng đã cảm thấy nao nức làm sao!, tràn đầy xúc động lẫn vui mừng. Xúc động là vì tha phương viễn xứ không viếng thăm được mộ phần những người thân thuộc, chạnh nhớ đến những nấm mồ vô chủ ở quê nhà nay có còn không? Ôi! Dấu người thập loại biết là đâu? Hồn phách mơ màng đã bấy lâu Độ ấy nghinh ngang đầy thế giới Những mồ vô chủ thấy mà đau. Vui mừng là mặc dù đường sá xa xôi vạn dặm, nơi xứ lạ quê người, vẫn được qúy Thầy không quản ngại khó nhọc xa xôi từ các nơi về đây cầu nguyện, gia trì công đức cho thân linh của mọi Phật tử. Quí Bác, các anh, chi em trong Đoàn Thanh Niên Phật Tử ngày đêm lo tổ chức lễ đàn. Các bà con khắp các thành phố của Utah sẽ tề tựu về dưới mái Chùa Phổ Quang, qùy bên nhau như anh em cật ruột, lắng lòng cầu nguyện báo hiếu mẹ cha, những người thân thuộc. Ôi! Còn gì cao qúy hơn nữa trong giờ phút đó. Khi làn khói hương quyện tỏa lên không trung cũng chính là lúc chư Cửu Huyền Thất Tổ, Tiên linh, Anh linh quá cố, chư Hương linh, Âm linh Cô hồn hãy trở về đây cùng nhau thọ hưởng chén nước trong, nén hương lòng của người dâng cúng. ……… Thương thay thập loại chúng sanh, Phách đơn hồn chiếc lênh đênh quê người. Hương lửa đã không nơi nương tựa, Phần mồ côi lần lữa đêm đêm, Còn chi ai khá ai hèn, Còn chi mà nói ai hiền ai ngu. ……… (Văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du) Lúc sống chúng ta còn có thể tranh danh đoạt lợi, nhưng khi đã chôn vùi dưới đất lạnh ngàn thu thì chúng ta có thể còn một con đường duy nhất là nghe câu kinh tiếng kệ, mà từ đó tìm về cảnh giải thoát, để thoát ly sanh tử luân hồi, nương theo hào quang của đức Phật để về với cảnh Tịnh độ. Nam Mô Tịnh Độ Phẩm Bồ Tát ma Ha Tát.

 

 

……………………………….

 

Ý Nghĩa Trai Đàn Chẩn Tế Cô Hồn

 

Trong các lễ cúng thí Cô hồn, Trai đàn Chẩn tế được tổ chức quy mô nhất. Nó bao hàm cả hai khía cạnh văn chương và triết lý, gần như tất cả tinh hoa của tư tưởng và văn học Phật Giáo Đại thừa Mật Tông được gói trọn vào đây. Về hình thức, trai đàn nầy dựa trên nền tảng của triết học Mật giáo. Tức bố trí theo một hình thức đơn giản của mạn đà la (mandala). Đó là một vòng tròn, được tượng trưng như một đóa hoa sen nở trọn, và vòng tròn nầy là căn bản vũ trụ luận của Mật Giáo. Thông thường có hai bộ mạn đà la. Kim Cang giới mạn đà la (Vajradhàtu-mandala) biểu tượng cho trí huệ sở chúng của Phật. Thai tạng giới mạn đà la (garbhadhàtu-mandala) biểu tượng cho phương tiện độ sanh của Ngài. Mỗi mạn đà la đều dựa trên một số chủ điểm tư tưởng của Đại thừa giáo. Chủ điểm đáng ghi nhớ nhất, đại lược như sau: Trước hết, chúng ta nên biết rằng theo quan điểm truyền thống Phật giáo, vũ trụ gồm hai thành phần. Một đằng là nhân cách, tức lấy con người hay các loài hữu tình làm bản vị, mà trên hết, lấy nhân cách của Phật làm biểu hiệu cho bản thể tuyệt đối. Đằng khác nữa, là thế giới của nhân cách, là những pháp sở chứng và thọ dụng bất khả tư nghị của Phật. Nhân cách có năm yếu tố, gọi là năm uẩn: sắc, thọ tưởng, hành, thức. Chúng tập họp lại thành một bản ngã giả tưởng nên được gọi là uẩn. Thế giới của nhân cách được cấu tạo bởi năm yếu tố, gọi là năm đại: địa, thủy, hỏa, phong và không. Trên cơ sở giáo nghĩa nầy, trước hết mạn đà la của Kim cang giới được thiết lập để biểu hiện trí huệ sở chứng của Phật. Kim cang là loại chất rắn không bị bất cứ gì hủy hoại được. Do đó kim cang được vận dụng như một khái niệm cụ thể hóa yếu tính tồn tại của Phật thân, gọi là kim cang bất hoại thân (vajrasauhatanakàya). Thân ấy, cũng như thân của tất cả mọi loài chúng sinh, đều do năm uẩn và năm đại cấu thành. Nhưng tồn tại của Phật thân không khác biệt với hoạt dụng của Phật trí. Do đó, năm đại tương ứng với năm trí. Và nhân cách của Phật, như là chỉnh thể thống nhất của tồn tại và nhận thức, được biểu hiện thành năm đức Như Lai tương ứng, tức Ngũ Trí Như Lai, hay năm vị Thiền Phật (sẽ nói rõ ở phần Ngũ Phương Phật).

Sau đây sẽ mô tả sơ lược một trai đàn chẩn tế từ trong ra ngoài: Từ trong ra. - NỘI ĐÀN

1. Bàn Phật : Tại chùa có Chánh điện, tại tư gia có Bàn thờ Phật là nơi Tham Lễ Giác Hoàng :

2. Bàn kinh : Nơi để nghi thức, chuông mõ, pháp khí.

 

- NGOẠI ĐÀN

 1. Màn Sư tử tòa : Sư tử tòa là chỗ ngồi của Phật. Phật là bậc oai đức hơn tất cả chúng sanh. Cũng như sư tử dõng mãnh hơn tất cả các thú. Chớ chẳng phải Phật ngồi trên mình con sư tử. Cho nên dù Phật ngồi bất cứ đâu, dù trên ghế, hòn đá, gốc cây hay mặt đất. . . thì những chỗ đó đều gọi là Sư Tử Tòa. Vậy bức màn Sư Tử Tòa là bức màn có hình con sư tử được vẽ rất oai nghiêm, dõng mãnh treo sau lưng vị Gia Trì Sư, tượng trưng chỗ ngồi của Phật. :

2. Bảo Tọa : chỗ ngồi của Gia Trì Sư, khi ngồi vào đây là đại diện chư Phật vì chúng sanh, đặc biệt là cô hồn mà tuyên dương Chánh pháp. Theo khoa nghi, trước khi vị chủ sám vào chỗ ngồi phải cung hành một nghi thức mật pháp rất trang nghiêm. Sau khi cung thỉnh Ngũ Phương Phật xong , vị chủ sám đến đứng trước bàn Giác Hoa. Vị tả kim đài 1 đứng ở vị trí ở bàn kim đài, hai tay nâng thủ lư cung thỉnh Vị Gia Trì Sư đăng bảo tọa để thuyết giới cho cô hồn. Sau khi vị Gia Trì Sư đáp lại và xin chư Phật cho phép đăng bảo tọa. Vị tả kim đài 1 ra lệnh cử chuông trống bát nhã bằng động tác vỗ vũ xích, chuông trống bát nhã cử hành, Vị Gia Trì Sư quay về trái đi lên bảo tòa. Kinh sư vào vị trí bàn kim đài.

3. Màn song khai : Trước bảo toạ là bức màn phân làm đôi, được đóng lại hoặc mở ra tùy theo lúc qui định trong khoa nghi.

4. Bàn kim đài : Kinh sư ngồi hai bên tả hữu mỗi bên ba hay bốn vị. Thứ tự tính từ trong ra ngoài. Có một vài sự đổi thay nhỏ tùy vùng xử dụng tang và mõ. Huế, kinh sư ngồi ghế để đầu trần. Bình Định, kinh sư ngồi xuống chiếu, đầu đội tỳ lư, xử dụng 2 đẩu (giống cái tang nhưng không có cán) và mõ. Miền nam, kinh sư ngồi ghế đầu trần, xử dụng 2 đẩu và mõ.

5. Bàn Giác Hoa : Giác hoa Định Tự Tại Vương Như Lai, một đức Phật ở cõi Ta bà, hồi đời qúa khứ cách nay không biết bao nhiêu kiếp. Ngài có tuổi thọ bốn trăm ngàn vạn ức a tăng kỳ kiếp. Về đời tượng pháp của đức Phật ấy có một cô gái Bà la môn, nhơn mẹ vừa khuất, đến chiêm lễ tượng Phật Giác Hoa Định Tự Tại Vương tại chùa cầu cho biết hồn mẹ ở chốn nào, ngài liền khiến thần thức của cô gái ấy đến cõi địa ngục. Nơi đây quỷ vương cho biết nhờ phước đức cúng Phật và bố thí của thánh nữ, hồn bà được thoát cảnh điạ ngục mà lên cảnh tiên. Cô gái ấy tức là tiền thân của Địa Tạng Bồ Tát.

6. Các án Ngũ phương Phật : Ngũ phương Phật là một hệ thống phối trí chư Phật, chư Bồ Tát, chư Hộ pháp hết sức thâm diệu của Phật giáo Mật Tông, Ngũ phương Phật là sự phối hợp giữa Ngũ phương, Ngũ Trí, Ngũ Phật, Ngũ Bộ và Ngũ Hành trong Thai Tạng Mạn đà la và Kim Cang Giới Mạn đà la. Theo sự truyền thừa của Phật giáo Việt Nam từ xưa đến nay trong Trung Khoa Du Già Tập Yếu khắc bản năm Mậu Tý triều Vua Đồng Khánh và bài viết “LỄ THÁNG BẢY cho những oan hồn phiêu bạt” của Thầy Tuệ Sĩ, đàn tràng Chẩn tế tại Việt Nam được cung trần theo Kim Cang Giới Mạn Đà La. Chúng tôi xin trình bày khái quát như sau: Kim cang giới mạn đà la là thuyết minh hoạt dụng của trí huệ sai biệt trong lý tính không sai biệt, do đó Ngũ trí Như lai là trọng tâm của mạn đà la nầy. Hình dạng cơ bản là một hình tròn, gọi là nguyệt luân (candramandala). Bên trong hình tròn nầy thiết lập các biểu tượng của năm vị Như Lai.

 

Án Trung ương : Chính giữa là vị trí Đức Phật Tỳ Lô Giá Na tức Đại Nhật Như Lai (Mahà Vairocana – Tathàgata) hiển thân sắc màu vàng, đối diện với bàn Giác Hoa. Đó là Pháp thân Phật (Dharmakàya Buddha), như mặt trời bủa rộng ánh sáng bình đẳng và bao dung cùng khắp vũ trụ. Trong năm đại, Ngài biểu tượng cho không đại (àkàzadhàtu), và bản chất của hư không là bao dung. Trong năm uẩn, Ngài là biểu tượng của thức uẩn. Trong năm loại trí, Ngài biểu tượng cho Pháp giới thể tánh trí. Bốn phương chung quanh Ngài Đại Nhật Như Lai là vị trí của bốn đức Như Lai, theo thứ tự từ Đông qua Nam cho đến Bắc mà quý vị trong khoa Chẩn Tế thường nói cho dễ nhớ: Tả Đông, Nam. Hữu Tây; Bắc (từ trong đi ra) theo chiều kim đồng hồ, tức bên tay trái là phương Đông và Nam, bên tay phải là phương Tây và Bắc như sau:

Án Phương Đông : A Súc Phật (Akwobhya) hay Bất Động Như Lai, hiển sắc thân màu xanh, trở mặt vào án Trung ương với các biểu tượng: Phong đại (vàyu-dhàtu), nhờ đó mà vũ trụ có vận động; hành uẩn động cơ tạo tác của các loại hữu tình; Đại viên cảnh trí, như tấm gương tròn bao la và ngời sáng phản chiếu mọi hiện tượng sinh thành và hủy diệt của thế giới.

 Án Phương Nam : Bảo Sanh Phật (Ratnasambhava), hiển sắc màu đỏ, trở mặt vào Trung ương) với các biểu tượng: Hỏa đại (tejo-dhàtu), khả năng làm chín muồi để đưa đến chỗ thành tựu các vận động của chúng sanh và thế giới; tưởng uẩn, khả năng truy ức quá khứ và ước vọng tương lai để thúc đẩy sự tiến hành sinh hóa; Bình đẳng tánh trí, khả năng quan sát bình đẳng các pháp không bị ràng buộc ngã và pháp.

Án PhươngTây : A Di Đà Phật (Amitabhà), hiển sắc màu trắng, trở mặt vào Trung ương), biểu tượng Thủy đại, khả năng kết hợp các pháp để tác thành duyên sinh hay duyên khởi; thọ uẩn, khả năng hưởng thụ thành quả của các vận động; Diệu quan sát trí, nhìn thấy rõ chân tướng của vạn hữu, của tác dụng sinh khởi, tồn tại và hủy diệt.

Án Phương Bắc : Bất Không Thành Tựu Phật (Amoghasiddhi), hiển sắc màu đen, trở mặt vào Trung ương, biểu tượng Địa đại, khả năng duy trì sự tồn tại của vũ trụ; sắc uẩn, tác thành thế giới hữu tình; Thành sở tác trí, thể hiện các phương tiện giáo hóa chúng sanh. Phía sau Ngũ phương Phật là:

1. Bàn Địa Tạng (đồng hướng với Trung ương)

 2. Bàn hộc thực (thấp, để đồ cúng Cô hồn)

3. Bàn Tiêu Diện (cao hơn bàn Địa Tạng )

 

 

Tác giả bài viết: Nguyên Hòa



TIN PHƯỚC HẬU     TIN PHẬT GIÁO     PHẬT HỌC & TRIẾT HỌC     LỊCH SỬ & VĂN HÓA     NGHI LỄ     TỦ SÁCH     Y HỌC     ÂM NHẠC     TUỔI TRẺ     HỎI ĐÁP

CHÙA PHƯỚC HẬU
THÔN PHÚ AN, XẤ PHÚ HỘI, ĐỨC TRỌNG, LÂM ĐỒNG
ĐT: 063.3846831
Email: phuochau@chuaphuochau.com.vn
Website: www.chuaphuochau.com.vn
Copyright ©2010 Chua Phuoc Hau. All rights reserved.

Mọi tin tức, bài vở, ý kiến và xây dựng xin liên lạc:
Trụ trì Chùa Phước Hậu: Đại đức Thích Hạnh Huệ
Điện thoại: 0972.846831
Email: phuochau@chuaphuochau.com.vn